Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thuốc dân tộc

Nâng tầm giá trị y học Dân tộc

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG THUỐC DÂN TỘC

Bệnh vẩy nến thể giọt (Guttate): Giai đoạn, biểu hiện, nguyên nhân & điều trị



Theo Tổ chức Bệnh vẩy nến Quốc gia (NPF), có khoảng 10% người bị vẩy nến phát triển thành bệnh vẩy nến thể giọt (Guttate) – đây là bệnh có mức độ phổ biến chỉ sau vẩy nến thể mảng. Các triệu chứng thường gặp của bệnh vẩy nến thể giọt như da nổi đốm đỏ, vẩy có hình như giọt nước.

bệnh vẩy nến thể giọt guttate
Có khoảng 10% người bị vẩy nến phát triển thành bệnh vẩy nến thể giọt.

Bệnh vẩy nến thể giọt là gì?

Vẩy nến thể giọt (Guttate) là bệnh tự miễn, xuất hiện khi tế bào da trên cơ thể tăng tốc độ tăng trưởng tự nhiên. Tên bệnh có nguồn gốc từ tiếng Latin, chữ Gutta trong tên có nghĩa là “giọt”. Sở dĩ có tên gọi như vậy vì các mảng nhỏ màu đỏ nổi lên trên bề mặt da (cánh tay, chân, thân, tai, da mặt) giống như trông giống như hạt nước mắt hay hạt mưa.

Thông thường, vẩy nến Guttate tự biến mất mà không để lại sẹo. Tuy vậy, cũng có những trường hợp cần có sự can thiệp của y khoa mới có thể kiểm soát được các triệu chứng.

Triệu chứng của bệnh vẩy nến thể giọt

Các triệu chứng đặc trưng của bệnh vẩy nến thể giọt

  • Da nổi từng mảng nhỏ, màu đỏ hoặc hồng đậm giống như hạt mưa hoặc nước mắt, có ranh giới rõ ràng.
  • Có hoặc không có vảy da (vảy da là những phiến mỏng, lỏng lẻo, dễ bị bong khi gãi hoặc nạo. Khi loại bỏ phần vẩy, da có thể bị rướm máu).
  • Thương tổn riêng lẻ, rải rác trên da, mật độ bao phủ ít hơn so với tổn thương do vẩy nến thể mảng.

Vẩy nến thể giọt xuất hiện chủ yếu tại cánh tay, chân, ngực, sau đó lan lên mặt, tai, da đầu. Bệnh không xuất hiện ở lòng bàn tay, bàn chân, móng tay như một số thể vẩy nến khác.

Bệnh vẩy nến thể giọt có nguy cơ bùng phát vào mùa đông hoặc khi thời tiết khô hanh và phát triển, lây lan nhanh hơn vào mùa hè.

Các giai đoạn của bệnh vẩy nến thể giọt

Có thể phân bệnh vẩy nến thể giọt thành ba giai đoạn:

  • Giai đoạn nhẹ: Bề mặt da chỉ có một vài đốm nhỏ (khoảng 3% da).
  • Giai đoạn vừa: Tổn thương chiếm 3 – 10% bề mặt da.
  • Giai đoạn nặng: Tổn thương 10% da hoặc toàn bộ cơ thể.

Ngoài ra, việc phân loại bệnh vẩy nến thể giọt còn có thể căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của bệnh đến đời sống sinh hoạt hằng ngày. Chẳng hạn, vẩy nến chỉ chiếm 2 – 3% tổng diện tích trên cơ thể nhưng nó sẽ được xếp vào dạng nghiêm trọng nếu gây hưởng đến ngoại hình. Hoặc bệnh vẩy nến ở tay chỉ xuất hiện trên 2% tổng diện tích cơ thể nhưng gây ảnh hưởng đến sinh kế thì cũng có thể xếp vào nhóm từ trung bình – nặng.

Nguyên nhân và tác nhân gây bệnh vẩy nến thể giọt

Cho đến hiện tại, nguyên nhân gây bệnh vẩy nến thể giọt vẫn chưa được xác định. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, đây là một loại rối loạn tự miễn. Hiện tượng trên xảy ra khi hệ thống miễn dịch cơ thể thay tấn công đến tế bào da khỏe mạnh (thay vì tấn công vi khuẩn, vi rút gây bệnh), gây đỏ, ngứa da, da đóng vảy, bong tróc.

nguyên nhân gây bệnh vẩy nến thể giọt guttate
Mặc dù vẫn chưa tìm được nguyên nhân gây bệnh vẩy nến Guttate, song các chuyên gia đã phát hiện được những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Bệnh vẩy nến Guttate thường bùng phát sau đợt mắc bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn – phổ biến nhất là liên cầu khuẩn. Di truyền cũng là một trong những yếu tố được xác định có liên hệ mật thiết đối với bệnh.

Theo NPF, một số yếu tố kích hoạt bệnh vẩy nến bao gồm:

  • Nhiễm trùng đường hô hấp trên
  • Viêm amidan
  • Căng thẳng
  • Trên bề mặt da có vết trầy xước, bỏng
  • Do ảnh hưởng của thuốc điều trị: thuốc chống sốt rét và thuốc chẹn beta (thường dùng điều trị chứng rối loạn nhịp tim).

Chẩn đoán bệnh vẩy nến thể giọt

Thông qua việc quan sát triệu chứng trên da, đặt một số câu hỏi về tiền sử bệnh, bác sĩ sẽ có chẩn đoán sơ bộ về vấn đề người bệnh đang mắc phải.

Thông báo cho bác sĩ các loại thuốc đang dùng và một số thông tin về bệnh sử để việc chẩn đoán diễn ra thuận lợi.

Trong một số trường hợp, người bệnh có thể được chỉ định biện pháp lấy máu, xét nghiệm có vi khuẩn strep bên trong hay không, làm sinh thiết…  trước khi đưa ra kết luận chẩn đoán cuối cùng.

Điều trị bệnh vẩy nến thể giọt

Một đợt bệnh vẩy nến Guttate thường kéo dài từ 2 – 3 tuần và tự biến mất ngay sau đó. Tuy nhiên, bạn cũng có thể rút ngắn thời gian trên bằng cách áp dụng những phương pháp sau:

Dùng thuốc điều trị

Người bệnh vẩy nến thể giọt có thể dùng thuốc kê đơn hoặc không kê đơn để khắc phục một số triệu chứng bệnh như: ngứa da, bong tróc da, khô da…, gồm:

  • Kem Cortisone trị ngứa và sưng da
  • Dầu gội trị gàu nếu như vẩy nến xuất hiện ở da đầu
  • Lotion kết hợp với cool tar (dẫn xuất của than đá) để làm dịu da, giảm viêm và ngứa.
  • Kem dưỡng ẩm
  • Vitamin A

Trong trường hợp bệnh vẩy nến chuyển biến nghiêm trọng, người bệnh có thể được chỉ định một số thuốc điều trị sau, gồm:

  • Corticosteroid: Thuốc có tác dụng cải thiện tình trạng ngứa, đỏ trên da.
  • Methotrexate: Thuốc có vai trò ức chế hệ thống miễn dịch, thường được dùng trong trường hợp bệnh vẩy nến thể giọt trở nên nghiêm trọng hoặc những loại thuốc điều trị khác không phát huy tác dụng.
  • Apremilast (Otezla)

Quang trị liệu

Quang trị liệu hay còn được gọi là liệu pháp ánh sáng. Bác sĩ sẽ chỉ định bạn bôi một số thuốc tăng cường hấp thụ ánh sáng, sau đó soi tia cực tím lên da để ngăn chặn quá trình phát triển của tế bào da.

Bên cạnh giải pháp trị liệu ánh sáng nhân tạo, người bệnh cũng có thể được chỉ định tắm nắng (2 – 3 lần mỗi tuần) để hỗ trợ điều trị bệnh vẩy nến thể giọt.

Vì nguyên nhân gây bệnh vẩy nến thể giọt chưa được làm rõ nên giới chuyên môn chưa tìm được phương pháp điều trị bệnh triệt để. Tuy nhiên, nếu như biết cách chăm sóc da và điều trị, bệnh có thể ổn định trong một thời gian dài. Trong trường hợp bệnh xuất hiện và các triệu chứng biểu hiện nặng nề, người bệnh nên nhanh chóng đến cơ sở y tế để thăm khám và có biện pháp điều trị phù hợp.

Thuocdantoc.vn không đưa ra lời khuyển, chẩn đoán hay phương pháp điều trị y khoa.

Ngày đăng: 24/12/2018 - Cập nhật lúc 11:03 am , 04/01/2019

Tham khảo nội dung

Bài viết liên quan

CM
Top